Trung tâm sản phẩm

Xét nghiệm nhanh kết hợp Chlamydia/Lậu

    Mô tả ngắn gọn:

    Xét nghiệm nhanh kết hợp Chlamydia/Lậu

    Một xét nghiệm nhanh để phát hiện định tính kháng nguyên Chlamydia và kháng nguyên Lậu trong mẫu phết cổ tử cung nữ và mẫu phết niệu đạo nam.

    Chỉ sử dụng cho chẩn đoán in vitro chuyên nghiệp.



    Chi tiết sản phẩm

    Câu hỏi thường gặp

    Tóm tắt về An toàn và Hiệu suất

    Thẻ sản phẩm

    MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG 

    Băng thử nghiệm nhanh kết hợp Chlamydia /Lậu (Quét cổ tử cung/Niệu đạo) là một xét nghiệm miễn dịch sắc ký nhanh để phát hiện định tính Chlamydia trachomatis và Neisseria gonorrhoeae trong mẫu phết cổ tử cung nữ, mẫu phết niệu đạo nam để hỗ trợ chẩn đoán nhiễm trùng Chlamydia và Lậu.

    TÓM TẮT  

    Chlamydia trachomatis là nguyên nhân phổ biến nhất gây nhiễm trùng hoa liễu lây truyền qua đường tình dục trên thế giới. Nó bao gồm các thể cơ bản (dạng lây nhiễm) và thể lưới hoặc thể vùi (dạng sao chép). Chlamydia trachomatis có tỷ lệ lây nhiễm cao và tỷ lệ lây nhiễm không có triệu chứng, thường xuyên xảy ra các biến chứng nghiêm trọng ở cả phụ nữ và trẻ sơ sinh. Các biến chứng của nhiễm Chlamydia ở phụ nữ bao gồm viêm cổ tử cung, viêm niệu đạo, viêm nội mạc tử cung, bệnh viêm vùng chậu (PID) và tăng tỷ lệ mang thai ngoài tử cung và vô sinh.1 Việc lây truyền bệnh theo chiều dọc trong quá trình sinh nở từ trẻ sơ sinh sang trẻ sơ sinh có thể dẫn đến viêm kết mạc hoặc viêm phổi. Ở nam giới, biến chứng của Chlamydia bao gồm viêm niệu đạo và viêm mào tinh hoàn. Ít nhất 40% trường hợp viêm niệu đạo không do lậu cầu có liên quan đến nhiễm Chlamydia. Khoảng 70% phụ nữ bị nhiễm trùng nội tiết cổ tử cung và có tới 50% nam giới bị nhiễm trùng niệu đạo không có triệu chứng. Theo truyền thống, nhiễm Chlamydia được chẩn đoán bằng cách phát hiện các thể vùi của Chlamydia trong tế bào nuôi cấy mô. Phương pháp nuôi cấy là phương pháp phòng thí nghiệm có độ nhạy và độ đặc hiệu cao nhất nhưng lại tốn nhiều công sức, tốn kém, mất nhiều thời gian (18-72 giờ) và không được áp dụng thường xuyên trong hầu hết các trường hợp. Bệnh lậu là một bệnh lây truyền qua đường tình dục do vi khuẩn Neisseria gonorrhoeae gây ra.

    Bệnh lậu là một trong những bệnh truyền nhiễm phổ biến nhất do vi khuẩn và lây truyền thường xuyên nhất khi quan hệ tình dục, bao gồm cả quan hệ tình dục qua đường âm đạo, miệng và hậu môn. Sinh vật gây bệnh có thể lây nhiễm vào cổ họng, gây đau họng nghiêm trọng. Nó có thể lây nhiễm vào hậu môn và trực tràng, gây ra tình trạng gọi là viêm trực tràng. Với phụ nữ, nó có thể lây nhiễm vào âm đạo, gây kích ứng dịch tiết (viêm âm đạo). Nhiễm trùng niệu đạo có thể gây viêm niệu đạo kèm theo cảm giác nóng rát, đi tiểu đau và tiết dịch. Khi phụ nữ có các triệu chứng, họ thường thấy dịch tiết âm đạo, tần suất đi tiểu tăng và khó chịu khi đi tiểu. Sự lây lan của sinh vật đến ống dẫn trứng và bụng có thể gây đau bụng và sốt trầm trọng. Thời gian ủ bệnh trung bình của bệnh lậu là khoảng 2 đến 5 ngày sau khi quan hệ tình dục với bạn tình bị nhiễm bệnh. Tuy nhiên, các triệu chứng có thể xuất hiện muộn nhất là 2 tuần. Chẩn đoán sơ bộ về bệnh lậu có thể được thực hiện tại thời điểm khám4 Ở phụ nữ, bệnh lậu là nguyên nhân phổ biến gây ra bệnh viêm vùng chậu (PID). PID có thể dẫn đến áp xe bên trong và đau vùng chậu mãn tính, kéo dài. PID có thể làm tổn thương ống dẫn trứng đến mức gây vô sinh hoặc làm tăng nguy cơ mang thai ngoài tử cung.5

    HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG  

    fgn


  • Trước:
  • Tiếp theo:



  • Viết tin nhắn của bạn ở đây và gửi cho chúng tôi